Monday, July 7, 2014

Camino de Santiago- End

Ngày thứ 7: O Cebreiro- Samos: 30km
Một ngày dài, nó đã quen với những con đường, chân nó băng nhanh hơn. Buổi sáng trôi qua lúc nào cũng thật đẹp. Nó thích cái không khí se lạnh buổi sáng sớm, thích ngửa mình ra đón những ánh nắng đầu tiên, thích tiếng chim ríu ran ngày mới.

Hôm nay nó đã chơi dài. Trên đỉnh núi cao, chỉ có mây, thung lung phía dưới những vệt nắng trải dài, hoa li ty, cỏ thơm ngát. Tại sao lại không nằm trên cỏ chứ? Còn gì sung sướng hơn cái khoảng khắc tuyệt vời đó.
Mọi khoảng khắc, mọi gương mặt mà nó gặp, tưởng như tình cờ nhưng lại góp phần làm cho chuyến đi của nó thú vị hơn. Nhờ có người phụ nữ Norway đó mà nó được ban phước trong nhà thờ, rồi được dẫn đường đến với Samos. Rồi… được 1 lần nữa đi qua những con đường mòn xanh mát trong rứng.

9km cuối tới Samos không khó, nhưng do mệt, do sợ trời mưa mà quãng đường bỗng trở nên xa quá. Cứ sâu hun hút, rồi một mình làm nó có cảm tưởng không bao giờ hết. Gan bàn chân nó cũng bỗng nhiên dở chứng, đau nhức cả ngày làm nó tập tễnh, lê lết.

Lại câu thần chú “nửa tiếng nữa, nửa tiếng nữa’. Cuối cùng Samos cũng hiện ra, như vẻ đẹp của nữ tu sĩ ẩn hiện trong tấm khăn choàng đầu. Samos chỉ là một ngôi làng nhỏ nhưng nổi tiếng bởi tu viện đầu tiên ở Châu Âu từ thế kỉ thứ 6. Trừ tu viện ra thì quanh làng có rất ít nhà dân. Tập tễnh bước, rồi cuối cùng Samos cũng hiện ra, sau vòm lá, trầm lặng và lộng lẫy. Lúc đó đã 6h, chuông nhà thờ rung, mưa bay lất phất, nó thấy xốn xang trong lòng.





Ngày thứ 8: Samos- Saria

Ngày gần cuối của cuộc hình trình khi nó không có đủ thời gian để đi đến Santiago.

Nó sẽ nhớ những ngôi nhà lưu trú Albergue municaplity dành cho khách hành hương đơn sơ, đườm mùi mồ hồi và mùi giày. Đêm đến thì rền rĩ tiếng đàn ông ngáy. Những ngày đầu, việc ngủ ở Albergue đối với nó là một thử thách, thế mà bây h nó bỗng thấy nhớ, vì ở đó nó được gặp những con người tuyệt vời từ mọi nơi trên thế giới, những con người đặc biệt, khác thường.

Chỉ khi đến ngày cuối cùng, nó mới cảm thấy cái sự trân trọng, tiếc nuối đó… Ước gì có thêm thời gian.
Tối nay thôi, nó sẽ có mặt ở Santiago, ở nơi mà mọi con đường hành hương đều dẫn đến, được ngắm nhìn nhà thờ. Thế nhưng chỉ một mình nó giữa cái nhà thờ vĩ đại đó, không có các bạn, những người bạn đồng hành mà nó đã gặp, chắc nó sẽ trống trải lắm lắm!




Ngày 9: Santiago
Nó đã khóc, khóc ngon lành. Nó ngồi trước cửa thờ cả tiếng đồng hồ, trời mưa và nó thì khóc. Một cách tự nhiên thôi, chả hiểu sao nước mắt lại cứ chảy. Nó nghĩ đến những ngày đã qua, nghĩ đến những khó khan, sức chịu đựng, mọi thứ đều vượt qua mong đợi của nó. Và rồi nó ở đây… Mặc dù không đi hết chặng đường, nhưng đối với nó, lần đầu tiên, nó thấy hài lòng.

Đêm xuống, một cách tình cờ hôm nay lại là ngày lễ thánh Joan. Bữa tiệc lớn nhất tại Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Sau khi cơm no rượu say, nó lang thang trên con đường đá dẫn vào thành phố. Cái không gian thật lạ. Mọi nơi mọi người đốt lửa nhảy múa ăn mừng.  Cái mùi khói, mùi của sương, cái lạnh nhè nhẹ và tiếng nhạc Celtic một lần nữa lại làm nó như đi vào cõi xưa.


Santiago quá đẹp, thành phố của tôn giáo. Chỉ là một thành phố nhỏ mà có biết bao nhiêu nhà thờ. Lại vội vàng chỉ có 1 ngày ở đây do cái lỗi ngu ngốc nhớ nhầm giờ bay. Thôi thì nó vẫn quyết tâm làm một chuyến Camino nữa nên sẽ hẹn Santiago lần sau. Và bây giờ ta Porto thẳng tiến, yahhhh!


Sunday, July 6, 2014

Camino de Santiago- Part 3

Ngày 4: El Acebo- Ponfedera: 14km
Một ngày ngắn ngủi, chắc nó đi được hơn chục cây số. Thôi thì take it easy. Chân nó đau và người nó mỏi, cứ từ từ mà đi vậy thôi.

Đúng là càng đi càng gạp những người thú vị. Ai cũng có một hành trình dài cho mình, người đi 20 ngày, người đi cả tháng, có người trẻ và có người rất già. Họ cứ thế đi, từ từ không chút vội vàng. Đi để cảm nhận tự do, để hít căng vào lồng ngực cái hơi thở của đồng quê này.

Nó chỉ có 10 ngày, nó sẽ phải quen dần với cái nhịp điệu thú vị này. Sáng dậy 6h, đi bộ trong ánh bình mình, 8-9h nghỉ chân ăn sáng tắm nắng ở một làng nào đó. Trưa hơn 12h ăn trưa rồi chiều 3-4h tìm nhà lưu trú (Ambegue) để nghỉ, tránh cái nắng như điên buổi chiều. Ambegue là nơi lý tưởng để gặp những người cùng tính cách, cùng sở thích. Những người ở đây đến từ rất nhiều nơi nhưng đa số là châu Âu, Mỹ, một số Nam Mỹ, Hàn và Nhật và người Việt Nam đầu tiên là ta, hehe.


Bên ngoài cái vẻ bẩn thỉu, hôi hám, và bụi bặm đó là những tâm hồn vô cùng cởi mở, nó mừng, mừng lắm lắm!!

Ngày thứ 5: Pondedara- Pedeje: 28 km
Nó có bạn đồng hành trong gần cả chặng đường. Một ngày tốc độ và hiệu quả. Có 4 tiếng buổi sáng mà đi được gần 80 cây số. Nhờ có bác già Carlos mà đường bớt dài và chân bước nhanh hơn. Nhiều lúc mệt rã rời mà thấy bác chạy kinnh quá lại phải cố mà đi chứ không dám nghỉ. Một bác già người TBN, thích đi du lịch và đã đi khá nhiều nơi. Cụ đi phăm phhawm làm nó thấy ngại mà phải cong đít chạy theo.


Hôm nay nó được đi qua những cánh đồng nho bạt ngàn, thêm 2 lâu đài cổ ở Pondedara rồi đi dọc song trên đường từ Pondedara đến Pereje.

Những con người vui vẻ lúc nào cũng có mặt trên đường, chỉ cần nói chuyện với họ là nó sẽ có cả một kho chuyện để lắng nghe. Haiz, chỉ tiếc cái 2 anh zai đáng yêu thì tìm mỏi mắt không thấy đâu, buồn kinh.

Dọc đường đi, ngoài những người bạn đồng hành thì nó còn có cái mp3 và đám chim chóc làm bạn. Nó yêu thiên nhiên nơi đây, yêu những đàn cò làm tổ trên nóc nhà thờ, yêu những khóm hồng rực rỡ trên những góc ban công, yêu những dòng sông xanh thẫm và tiếng chim ríu ran. Vạn vật đều nên thơ một cách tự nhiên nhất có thể.

Ngày thứ 6: Pereje- Ocebreiro: 26km
Sáng dậy, nó vẫn là người cuối cùng trong nhà lưu trú. Một ngày ngắn và nhẹ nhàng với nó! Cảnh vật hôm nay đẹp! Địa hình thay đổi từ thoai thoải dọc sông sang địa hình núi rồi rừng. Mỗi tiếng trôi qua, nó lại ngỡ ngàng với sự biến đổi đó. Nó thích cái cảm giác đi trên con đường mòn dài hun hút trong rừng, ngắm nghía những cây to cổ thụ đã có cả tram năm tuổi. Tĩnh lặng, chỉ có tiếng bước chân, tiếng giá và chim hót. Cơn mưa rừng đến bất chật nhưng cũng chẳng thấm tháp vào đâu. Nó đứng trú dưới cây, ngắm nhìn cánh đồng lúa mì phía xa mà thấy hạnh phúc ghê gớm.

Chiều đến, lại một chặng leo núi nữa. Có lẽ do đi chậm nên nó không thấy mệt gì.

Con đường vẫn nhỏ, rực hoa vàng dọc triền núi. Nhìn cảnh đôi bạn già tình cờ trên đường nắm tay nhau bước đi mà long nó lại thấy xốn xang. Người  bí mật đã không xuất hiện lần thứ 2. Nếu nó bước đến chào buổi sáng hôm đó, có lẽ nó đã có một người bạn đồng hành hợp cạ mới. Tiếc !!!!



Một lần nữa, nó lại bị choáng ngợp với ngôi làng nhỏ từ thời Trung Cổ nơi đây. Cebreiro nằm chênh vênh trên đỉnh núi, chắc gần 20 nóc nhà không biết có từ bao giờ. Những ngôi nhà cổ bằng đá nằm tĩnh lặng nơi triền núi, chất chứa bao lịch sử. Lang thang trên con đường lát đá, văng vẳng tiếng nhạc Celtic làm nó có cảm tưởng đang đi vào quá khứ. Nó tưởng tượng ra hình ảnh những kị sĩ trên ngựa, những cô thôn nữ với mái tóc vàng óng rộn ràng phiên chợ….

Camino de Santiago- Part 2

Đến bây h vẫn không tin là mình đang trong chuyến đi ấp ủ đó.
Kể ra, mình cũng hơi điên, và có vẻ mình là người Việt Nam đầu tiên trên con đường này :D

Ngày đầu Camino đã có thử thách. Cả đêm không ngủ nổi trên bus vì vụ cái thẻ ngân hang bj block. Có lẽ do thức đêm, bia rượu và thuốc là mà đầu óc nó lú lẫn bấm nhầm cả pass. Cái buổi sáng sớm đó, nó đứng trước nhà thờ lớn ở Leon mà long không thể tĩnh được vì chỉ nghĩ đến tiền. 100 euro trong 10 ngày thì chết. May quá, cuối cùng cũng unlock được, vấn đề chỉ là password chứ cái thẻ vẫn ngon. Mừng rớt nước mắt.
Khởi đầu rực rỡ đó đã giúp nó phăm phăm được 34 km trong ngày đầu tiên mặc dù cuối cùng lết như sắp chết đến nhà lưu trú.


Ngày 2: Villavalte- Astogra

Có thể trong ngày đầu, đôi khi nó tự hỏi tại sao mình lại đi thế này, nhưng đến ngày thứ 2 thì mọi thứ bình thản hơn, đơn giản hơn. Chỉ đi, rồi trầm trồ, than phục trước những con đường, những ngôi nhà vùng ngoại ô Leon đã có từ thời La Mã. Và còn ngỡ ngàng hơn vì không hiểu tại sao họ có thể giữ gìn tốt đến vậy, hầu hết những ngôi nhà đều là nguyên bản. Những ngôi nhà đắp đất vàng óng với ban công hoặc vườn ngập hoa rực rỡ. Đủ các loại nhưng chủ yếu vẫn là hồng, thược dược và ly to ơi là to.


Một trở ngại nhỏ khi ngón chân út bị phồng rộp khiến việc đi lại của nó gặp khó khan hơn nhiều. Hai bên xương hông tím bầm và nhức vì bị ba lô tì vào. Hi vọng những ngày tới sẽ tốt!

Ngày 3: Elcebo: 34 km
Không ngờ nó có thể đi được 34km như vậy.
Buổi sáng diễn ra khá nhẹ nhàng với 16km đầu tiên. Cái nắng nhẹ lúc bình minh làm nó phấn khích. Đôi chân sau một đêm nghỉ ngơi cũng di chuyển nhẹ nhàng hơn. Thế nhưng, buổi chiều về từ Rebanal del Camino đến El Acebo thực sự là một thử thách. Dốc lên lien tục, đường nhỏ, nhiều đá nhọn làm chân nó chỉ muốn khuỵa. Đã muốn dừng, rồi lại cố, lại cố.  Nghĩ rằng sẽ nghỉ lúc 3h mà rồi cái nhà nghỉ tồi tàn đó lại làm nó muốn bước tiếp (đến bây h mới thấy tiếc vì đó là địa điểm nổi tiếng của dân hippy trên chặng Camino).



Từng cây số đi qua, nó phải nghỉ biết bao nhiêu lân. Ngoái lại nhìn chặng đường mình đi qua mà sửng sốt vì không ngờ đã băng qua chừng đấy ngọn núi. Quay lại hay bước tiếp? Có điên mới quay lại, mà bước tiếp thì còn đến hơn 5km nữa. Nhiều lúc nó như muốn khóc.

Vùng này độ cao hơn 1500, hao hao như Tam Đảo nhưng thoải hơn. Con đường hành hương vẫn nhỏ, hun hút và toàn đá. Dọc đường hoa nở bạt ngàn nhưng đầu nó thì on gong vì nắng, vì mệt nên cũng chả có tâm trí để chụp choẹt. Ở đây, người ta nói rằng “nắng chiều thì chỉ có chó điên là chạy ngoài đường”. Hix, mình có cảm giác như một con chó điên thật ấy chứ, lảo đảo bước, chỉ có cái đầu làm chủ, còn chân, tay, vai, hông như không phải của mình nữa rồi.

Cái giây phút nhìn thấy những nóc nhà  phía xa mà mừng rơi mừng rớt. Cái câu thần chú” Cố gắng lên, nửa tiếng nữa là đến nơi” thế mà hiệu nghiệm. Giờ thì nó đã chẫm chệ trong vườn, nốc xong 2 cốc bia, ăn một bát súp nóng và 1 con cá rán giòn tàn. Đi ngủ thôi!

BTW, mỗi ngày đi qua dù mệt nhưng vân thực sự thú vị. Cảnh vật mới, con người mới. Nó mừng lăm. 8 ngày nữa, cố gắng chân cứng đá mềm!

Saturday, July 5, 2014

Camino de Santiago- Part 1

Gần 2 tuần sau chuyến đi, nhưng những hình ảnh ấy vẫn cứ quẩn quanh trong đầu nó.
Camino de Santiago, có quá nhiều thứ để nói về nơi đó. Mỗi người tham gia chuyến hành hương  với một mục đích riêng, vì đức tin, vì muốn trải nghiệm, hoặc thậm chí là chạy trốn. Không chỉ là chuyến hành hương về với Chúa (nó không theo đạo) mà là chuyến hành hương về tâm hồn.
Đi bộ, và một mình vẫn là lựa chọn hoàn hảo. Nó là thời gian để bạn được tự do, làm những thứ bạn thích, dừng những chỗ bạn muốn, thả hồn lãng đãng hoặc đơn giản chỉ là im lặng và đi. Đi bộ cũng là một cách để thiền. Có những ngày, nó ngạc nhiên vì nó đã không nghĩ ngợi gì, hoàn toàn trống rỗng, chỉ đi, nhìn và tận hưởng. Có những chi tiết nhỏ nhặt trên đường đi, những khúc quanh, những ngôi nhà, bầu trời và mây mà chỉ khi đi bộ mới có thể quan sát được rõ nét. Có cảm giác mình đã sống quá nhanh, đã bỏ qua quá nhiều thứ tưởng chừng như tầm thường trong cái cuộc sống này. Có hôm nó đã đứng lại hơn nửa tiếng chỉ để nhìn một con ốc sên dở hơi bò hơn một gang tay trên đường, thích thú ngắm nhìn những sợi nhớt dài óng ảnh trải trên đường, nằm cả tiếng trên cái triền núi đầy cỏ xanh mướt và hoa dại để thả tầm mắt xuống phía thung lung xa xăm; hay ngồi dựa lung vào một gốc cây cổ thụ mà mải mê nhìn trời. Có lẽ vì thế mà nó luôn đi chậm, và luôn về muộn.

Đi một mình, đừng bảo là cô đơn, là không có bạn. Đứa bạn cùng lớp nói rằng ‘ko hiểu tại sao người ta lại đi một mình, sẽ buồn đến chết, phải chăng vì họ có vấn đề’. Không hề, nó nghĩ chỉ những người không dám đối mặt với bản thân mới phải dựa vào đám đông. Tự nhiên thôi, vẫn là đặc tính bầy đàn muôn thuở. Con người là một cá thể trong cộng đồng nên là việc giao lưu trong cộng đồng đó là chuyện đương nhiên. Tuy nhiên, những khoảng khắc một mình là vô cùng cần thiết để nhìn lại mình, để sống là mình chứ không phải sống vì cộng đồng. Nỗi sợ cô đơn hay chính là nỗi sợ bản thân. Anh muốn đi với bầy đàn chỉ vì bản thân anh hoang mang không biết mình là ai nên cần có tiếng nói của người khác để hành động theo chứ thực sự đó không phải là bản chất của anh. Để rồi, trong một giây phút một mình, anh bị chới với với câu hỏi ‘anh là ai trong cái thế giới này’.

Nó không thấy cô đơn chút nào, có quá nhiều thứ để nhìn, quá nhiều thứ để nghe trên đường. Và nếu cảm thấy tẻ nhạt, thì xung quanh có quá nhiều những con người thú vị từ mọi nơi trên thế giới để bạn khám phá. Một trong những điều thú vị là mỗi buổi chiều, sau khi hạ ba lô ở nhà lưu trú, tắm rửa sạch sẽ, nó được đi dạo quanh làng, ăn tối, uống vài cốc bia trong cái bar làng, viết nhật kí và nói chuyện với những người bạn cùng phòng. Dù xuất thân khác nhau, nhưng tất cả đều có một điểm chung, đều… khác biệt, họ có thể trầm tính, có thể bùng nổ nhưng tất cả đều mạnh mẽ, phóng khoáng và đều có khát khao khám phá, ít nhất là bản thân họ. Có những người đi bộ cả tháng, có người đi từ Thụy Sĩ, từ Đức… tất cả đều bị coi là hơi điên trong cộng đồng của họ nhưng ở đây, mọi người đều như nhau. Nó đã tìm được them nghị lực để tiếp tục chuyến hành trình từ những con người đó. Có những lúc tưởng chừng như kiệt sức, chân không lết nổi, nhưng vẫn cố, từng bước, từng bước và cuối cùng nó cũng đến nơi. Slowly, take it easy.

Đi một mình, sẽ có rất nhiều hiểm họa rình rập? Bạn bảo ‘đừng đi nguy hiểm lắm, lạc đường, cướp bóc, và… hãm hiếp bởi người xấu’ Có thể điều đó sẽ xảy ra, có thể không, chẳng ai biết được. Người xấu chỗ nào cũng có, nhưng người tốt và người thú vị thì còn nhiều hơn. Một là bạn chết vì cô đơn trong cái góc an toàn của bạn hoặc  lao ra ngoài để rồi bất ngờ vì những thứ lo sợ trước đó thật là bullshit. Lo sợ, đó vẫn là căn bệnh chung. Chúng ta mường tượng ra qua nhiều viễn cảnh đen tối theo mô típ Hollywood mà không hề biết rằng ngoài kia có biết bao điều tuyệt vời. Chúng ta quá vật chất khi lệ thuộc ngày càng nhiều vào máy móc để tìm niềm vui trong thế giới ảo, hoặc nghĩ rằng cuộc sống chỉ có thể duy trì với hằng hà sa số những đồ đạc để rồi bó mình trong cái góc nhỏ bé đó, để rồi sợ vì buồn, sợ vì… không có internet… sợ  đủ thứ. Nỗi sợ và cuộc sống vật chất dường như làm  mòn đi cái tính khám phá của nhiều người, thật đáng tiếc thay.
Nó thấy yêu cơ thể nó hơn, yêu bàn chân size 38 kì diệu của nó. Dù không pro, không có giày hiking xịn, không có gậy chống nhưng nó vẫn vững vàng trong chuyến đi. Nhìn cái giá để giày với những đôi boot xịn mà thòm thèm. Dù sao thì chỉ một vết phồng rộp duy nhất ở ngón chân út với đôi giày siêu lởm đó đã là một thành tích đáng nể lắm rồi. Mỗi ngày đi bộ, nó thầm cảm ơn bố mẹ đã trao cho nó một cơ thể khỏe mạnh, không khiếm khuyết, một cơ thể tràn trề sức sống để có thể hăm hở tận hưởng nắng gió, một bàn chân vững chải để có thể sải bước rộng (but, anyway, một đôi giày xịn cũng vẫn vô cùng quan trọng, lần sau có đi lại thì nó sẽ không tiếc tiền mà sắm một đôi tử tế).

Camino de Santiago chấm dứt, nhưng những chặng đường phía trước vẫn còn đó, way of life. Nó nghĩ nó sẽ vẫn cứ thanh thản mà đối diện thôi. Mọi thứ đều tự nhiên, có khó khan thì mới có ngọt ngào, quan trọng là quyết định để bắt đầu.
Có một số slogan trên đường mà nó cực ưa thích:
No pain, no glory!
Beginning is the most difficulty.
You can walk with a broken leg but not with a broken heart.

Và back lại, câu nói của Steve Job vẫn thật tuyệt “Stay hungry, stay foolish”.

Sunday, June 15, 2014

Catalan- Barcelona

Đặt chân xuống sân bay, miệng nó đã cười ngoác ra. Chỉ là… tự cười một mình, cười vì sung sướng cuối cùng cũng có một chuyến đi dành riêng cho nó, một chuyến đi tự do!

Có lẽ sẽ thật sai lầm khi ngồi ở nhà ủ rũ với luận văn. Nhớ lại cái thời điểm trước khi nộp đề tài, bấn loạn, lo lắng, không muốn đi, nó đã nghĩ sẽ ở nhà và hủy tất cả mọi thứ, nó đã có cái giác không muốn thực hiện chuyến đi này. May quá may quá, thật không uổng. Cuối cùng thì cái hành trình 20 ngày ấp ủ bấy lâu cũng được thực hiện. Có quá nhiều sự kiện, quá nhiều người, quá nhiều khung cảnh, quá nhiều nụ cười, quá nhiều cái ngưỡng mộ…overwhelming đối với nó. 

Mở đầu là 6 ngày tại xứ Catalan!

Lourdes đến đón nó đúng 12h30 như đã hẹn. A hú, sau 3 năm, chẳng có thể ngờ người bạn tình cờ ở cái quán café bé xíu ở Hà Nội lại được hội ngộ tại Catalan. Mọi thứ cứ như một giấc mơ.

Catalan nắng rực rỡ, không oi bức như VN nhưng giữa trưa đứng nắng một lúc là cũng có thể lả đi như chơi. Được cái khi vào bóng ram lại mát rượi, thời tiết khô ráo nên không bị vã mồ hôi.

Chẳng có ai bắt đầu chuyến đi chơi lạ như nó (có lẽ đúng như Rebeka nói, nó không phải một tourist thực sự). Nửa ngày trời ở trong trại dưỡng lão. Chẳng có gì nhiều, chỉ là quan sát, nói chuyện (mặc dù hầu hết các cụ đều o biết tiếng Anh) nhưng cũng là một cách hay để hiểu về cách sống của người dân địa phương.

Lur và Uri, 2 người bạn mà nó và Hiệp quen tại Việt Nam sống tại La Gariga, một ‘ngôi làng nhỏ’ với những ngôi nhà cả tram tuổi. Kiến trúc đặc trưng theo phong cách Mordenisme với nhà xây bằng đá và trang trí bên ngoài bằng gạch men hoa văn đơn sắc, ban công bằng sắt hình hoa lá. Hầu hết các ngôi nhà cổ đều hơn tram tuổi từ đầu thế kỉ 19. Có lẽ là làng nên ai cũng biết nhau, ai cũng tươi cười. Nó thấy than thương như ở nhà khi ra đường ai cũng nhớ mặt, ai cũng hỏi thăm.


Ngôi nhà nhỏ ấm áp tràn ngập âm nhạc, nó bị thích!!

Gì nhỉ, nói về Catalan, nó chỉ biết đến với xứ sở bò tót, với Flamenco, Barcelona FC, Picaso và Gaudi (kiến trúc sư nổi tiếng theo trường phái mordenisme), ngoài ra không còn gì. Không biết gì đến một Catalan với những bất đồng chính trị, khát khao tự do và một Catalan hay la Gariga của rock máu lửa.

Ít nhất 2 ngày lang thang ở Barca cũng mang lại một hình dung nhất định về cái thành phố vừa cổ điển vừa năng động này. Luẩn quẩn tìm đường, rồi cũng tìm đến được những chỗ nó cần: Bari Gortic, Market, Sagrada Familia và một số tòa nhà tiêu biểu của Gaudi. Chầm chậm, khe khẽ hít hà, lắng nghe và cảm nhận. Những con ngõ nhỏ thẳng tăm tắp, những ban công ngập hoa và những lá cờ Catalan tung bay trong nắng. Đó là những thứ bình dị mà nó rất thích ở Barca. Rồi những sản phẩm kiến trúc ngoài sức tượng tượng của Gaudi. Nó không phải là người hâm mộ kiến trúc nhà thờ, thế mà đã lặng người đi khi bước vào trong sảnh của Sagrada Familia.Vẫn còn quá nhiều thứ để khám phá ở đây, và có lẽ đó cũng là lý do tốt để quay lại trong tương lai.



Sau Montenegro, Catalan giúp nó hiểu them về văn hóa và cách sống của con người vùng Địa Trung Hải hay những vùng có pha trộn văn hóa vùng Địa Trung Hải. Luôn vui vẻ, nhiệt tình, hồn hậu, mến khách và luôn có có máu âm nhạc trong người. Cái cách 2 bạn sắp xếp lịch trình, giới thiệu nó với bạn bè người than làm nó thực sự xúc động. Chỉ gặp nhau 2 ngày tại Hà Nội mà cái tình bạn không ngờ đó lại kéo dài được tận đến xứ Catalan này. 

Có nhiều thứ để nói về Lur và Uri

Crazy, có thể. Về một mặt nào đó, họ không khá giả về vật chất nhưng thực sự rất giàu về tâm hồn, và họ đang sống cuộc sống như họ mong muốn. Lourdes làm việc trong một trại dưỡng lão còn Uri làm trong trung tâm phục hồi cộng đồng cho người nghiện và chơi nhạc trong một band nhỏ như một thú vui giải trí. Có lẽ, do suy thoái kinh tế mà họ không có được công việc như mong muốn, nhưng dù sao họ vẫn yêu và hết mình cho công việc hiện tại. Cái nhịp sống của đôi đó có vẻ khác thường.  Lourdes làm từ 4-8h tối, tổ chức các hoạt động để tang sự giao tiếp của người già hay đơn giản chỉ nói chuyện, gây cười để họ bớt cô đơn. Nó thích lắm cái cách Lur đi đến từng cụ, cười nói, hỏi han, ôm hôn một cách nhiệt tình như người thân của mình. Uri thì làm từ 11h đêm đến 7h sáng, chả giống ai, công việc thiếu ánh sáng trầm trọng.



Hai con người đó có một tuổi trẻ thực sự tự do. Âm nhạc, rượu, tình yêu, và cả drug, có lẽ điên rồ nhưng họ đều khẳng định có những ngày tháng không nuối tiếc. Tất cả những điều đó là nguồn cảm hứng bất tận cho Uri để thổi hồn và những bài hát của mình.

Nó thích cái cảm giác thức dậy buổi sáng, ngồi trong cái vườn bé xíu với 2 cụ rùa, nghe cái giộng khan khan của Uri trong CD và nhâm nhi café trong khi 2 đôi trẻ vẫn còn ngủ, hay đêm muộn gần sáng, hút ké một điếu thuốc và nghe Uri cùng các anh bạn bàn tán về nhạc.


Cuộc sống của họ có vẻ kì dị với nhiều người và còn nhiều khó khan, nhưng 2 con người đó lúc nào cũng vui vẻ. Mặt mũi hớn hở và âm nhạc luôn tràn ngập. Có lẽ, nếu band của Uri mà  sang Việt Nam thì nổi như cồn phải biết! Chỉ ngồi nghe đánh tập mà đã thấy cái band nhạc quèn quèn ở cái làng bé xíu đó đã ăn đứt Bức Tường nhà mình rồi. Mỗi năm, 2 người lại đi du lịch dài ngày một đợt, do không có nhiều tiền mà họ luôn đến với những nước đang phát triển thay vì châu Âu như Senegal, VN, Nepal hay Brazil… những địa danh trong cái danh sách ấy cứ dài dằng dặc. Cứ đi, và vốn sống của họ lại càng dày thêm, và họ lại thêm yêu đời.


Nó sẽ gặp lại các bạn, chắc chắn đấy.

Sunday, April 13, 2014

Thăm thú vùng vịnh Balkan- Part 2: Albania

Tirano- Schoder
Có nhiều thứ vụn vặn để nói về Albania, một đất nước nghèo nhưng mến khách vùng Balkan.

Tirana, thủ đổ của Albania vừa lạ mà lại vừa quen. Trừ cái dáng người châu Âu, tuy có hơi thô kệch theo kiểu Nga ngố, còn lại mọi thứ đều giống VN: đường xá, nhà cửa, xe cộ. Có thể dễ dàng bắt gặp những góc giống Trần Huy Liệu, Nguyễn Hữu Huân hay Chùa Bộc ở cái xứ này.


Albania nghèo, nghèo hơn rất nhiều những gì mình tưởng tượng. Thế nhưng phụ nữ ở nơi đây lại trang điểm một cách cực kì tỉ mẩn khi ra đường (theo nó thì hơi quá đà, hơi lố khi bà nào cũng mắt xanh mỏ đỏ trông gớm chết). Café thì nhan nhản dọc được, từ thanh niên đến người trung tuổi ngồi đầy đường  đầy quán (giống y xì ở nhà). Café chuyện phiếm từ sáng đến trưa, rồi chuyển từ quán này sang quán nọ J.

Quan niệm về gia đình, về phụ nữ có vẻ vẫn giống nhiều nét Á đông. Gia đình vẫn là trung tâm, con cái lớn vẫn ở cùng bố mẹ cho tới khi kết hôn. Phụ nữ không nên uống rượu, phải nhẹ nhàng kín đáo. Các đôi ngoài đường cũng không thấy hun nhau, kiểu tình cảm như Châu Âu.

Ở đây, mình thấy rõ hơn tàn tích của chế độ cộng sản để lại, kiến trúc theo kiểu cộng sản và tư duy cộng sản. Không mấy người có thiện cảm với chế độ này, cái chế độ gắn liền với nhà độc tài Hoxha. Trong nhà nghỉ dán đầy những bức tranh biếm họa về các nhà lãnh đạo cộng sản. Tại Kruja, la liệt những bi đông, dép tong, mũ cối, những thứ được dân ta nâng niu theo kiểu hình tượng lịch sử, khí chất bộ đội cụ hồ thì ở đây chỉ coi là tàn tích của sự nghèo đói, tù túng thời cộng sản.

Nghèo như nhau, cùng xuất phát từ cộng sản nên cái quan niệm về ‘con ông chau cha, quan hệ, nhờ vả’ cũng giống hệt nhau. Qua câu chuyện của các bạn Albania, có thể thấy rõ cái ‘quan hệ’ quan trọng thế nào. Và trong cái thời buổi khó khan này thì ai cũng chỉ mong có một công việc ổn định, mong Đảng của mình giữ vững để tránh bị đá đít khỏi chính phủ.

Tuy nhiên, con người nơi đây thì lại quá nồng hậu. Nhiệt tình, mến khách, chu đáo vô cùng. Nó thấy may mắn vì được gặp những con người đó. Ai cũng sẵn sang giúp đỡ mà chẳng nề hà, sau này khi về nước, có cũng phải chấn chỉnh lại cách đối đãi với bạn bè.

Ngày cuối ở Schkoder/Schokodrar, nó ở trong một cái hostel nhỏ xinh gần trung tâm “Ma misa es ta misa’. Nơi đây lại hoàn toàn khác hẳn với một Albania mà mình đã biết, những con người tự do và hoàn toàn không care về chính trị. Nó share phòng với một đôi từ Mỹ, đi du lịch thong qua tình nguyện, mỗi vùng đất ở lại 2 đến 3 tuần rồi lại di chuyển tiếp. Không có đích đến cụ thể, nơi nào cần và nơi nào thú vị thì đến. Nó bị thu hút bởi câu chuyện của cô bạn cùng phòng được cầu hôn 4 lần bởi 4 người đàn ông khi sang đây. Nói là cầu hôn có vẻ to tát nhưng thực chất là hợp đồng hôn nhân để kiếm cái visa sang Mỹ đổi đời. Mỗi hợp đồng có thể từ 15 đến 20 ngàn đô, một số tiền đáng kể.  Để tránh phiên phức, cô bạn đã phải mua một cái nhẫn cưới giả ở Turkey để có gì thì giơ tay ra cho dễ giải thích. Nhận tiền? giúp đỡ người khác? Trao cơ hội đổi đời hay tự tạo ra rủi ro về pháp lý hay thất vọng từ gia đình là nhiều lý do khác nhau để cô từ chối. Anyway, một điều mà mình chưa bao giờ nghe nói đến.


Chốt lại chuyến đi Balkan, không có những kiến trúc nguy nga, những ngôi nhà cổ kính, nó được đắm mình trong nắng gió thiên nhiên, với sự hoang dại và chân chất. Một chuyến đi để lại nhiều suy ngẫm! 

Monday, April 7, 2014

Thăm thú vùng vịnh Balkan- Part 1: Montenegro

Lại một chuyến đi mới nữa. Lần này là vùng vịnh Balcan, nơi mà người ta nghĩ đến đói nghèo và nội chiến nhiều hơn là du lịch. Tuy nhiên, một tuần tại Montenegro và Albania thực sự tuyệt.

Podgorica
Lâu lắm rồi mới có người đón ở sân bay. Cái cảm giác thấy một khuôn mặt than quen, hay thấy tên của mình được viết cẩn thận từ xa sao mà đặc biệt thế.

Có lẽ Podgorica sẽ chẳng có gì ngoài một cái thành phố nhỏ xíu bị tàn phá hoàn toàn bởi bom đạn Đức thời thế chiến thứ hai, phố xá nhà cửa na ná Việt Nam (duy chỉ có điều là được ít xe máy và ít người hơn). Tuy nhiên, từ giây phút đầu tiên, nó đã bị ấn tượng bởi sự mến khách đặc biệt của con người nơi đây. Từ người chỉ đạo từ xa là cô bạn cùng lớp Maja, Olja- người đón nó ở sân bay, bác văn phòng du lịch đến cái gia đình này. Ai cũng hồ hởi giúp đỡ một cách nhiệt tình. ‘Ma maison est ta maison’ - nhà của tôi cũng là nhà của bạn- cái câu nói đó cứ được nhắc đi nhắc lại, đơn giản mà sao cảm động đến thế. Câu chuyện giữa bốn người vẫn trôi chảy với cả 4 ngôn ngữ Anh, Pháp, Nga, Mongtenegris. Mỗi thứ một tí, chắp vá thế mà vẫn suôn sẻ. Mọi người vẫn hiểu nhau và vẫn giới thiệu được mọi thứ về văn hóa, lịch sử cho nhau nghe.


Ấn tượng với ngôi nhà của bác. Nhà hai tầng nhỏ nhưng tràn ngập những bộ sưu tập. Những chiếc chuông, búp bê, mũ, chuông gió, tranh… và magnet. Phải là người đi nhiều, trải nghiệm nhiều thì mới có được một bộ sưu tập đồ sộ đến vậy. Rồi những cuốn sách. Là một gia đình có truyền thống học hành, bố mẹ và anh trai đều là giảng viên đại học nên nhìn tủ sách nhà bác mà ngưỡng mộ. Nhìn ngôi nhà của bác, mình ước có một ngôi nhà nhỏ dể bày biện, để kê tủ sách, để  xây dựng những góc kỉ niệm với gia đình như thế!


9/4
Nắng vàn rực rỡ, càng đi xa khỏi thu đô (nơi chả có gì để xem), cảnh vật thay đồi dần. Montenegro- một đất nước nhỏ bé nhưng có mọi thứ, rừng, biển, núi, hồ.

Ngày 1- Kotor – Buvad
Xuôi xuống phía Nam để đến với những thành phố ven biển cổ kính. Bây h thì nó đã hiểu tại giao thong công cộng như tàu điện không phát triển. Dân số quá ít nên người tự chủ về giao thong là chính, còn lại là hệ thống xe bus tới những town chính của đất nước. Là 2 tp tiêu biểu, cái khung cảnh và không gian nơi đây đã trở nên đậm đặc Địa Trung Hải. Nhưng con ngõ nhỏ, thoai thoải dần lên cáo. Những người phụ nữ hang xóm gọi với nhau từ căn gác này sang căn gác khác, những tấm ga trải giường nhiều màu sắc phơi dọc cửa sổ tung bay trong gió. Những hình ảnh thường thấy trong những tấm postcard về miền địa trung hải có thể dễ dàng bắt gặp ở nơi đây.



Kotor và Buvad đều nổi tiếng với khu old town, với những dọc tường thành từ thời La Mã. Mỗi bước chân đều có thể chạm lên những di tích ngàn năm… cẩn thận

Ngày 2- Zabiak- Black Lake

Ngược lên phía Bắc, nó đến với một trong năm national park chính của Montenegro. Chuyến đi từ đầu đã có chút trục trặc khi bị nhầm giờ xe bus. May mà xe chạy chậm nên taxi vẫn đuổi kịp. Thị trấn Zabiak bé tí xíu với những ngôi nhà gỗ nhiều màu sắc nằm dọc sườn đồi. Do chưa đến mùa du lịch nên thị trấn im lìm không mấy người qua lại.

Cơn mưa ban trưa làm chuyến đi bị gián đoạn. Nó chỉ có thể đi thăm được Black Lake chứ không đến được một số điểm cao như đã định. Tiếc…


Ngày 3- Bar

Một ngày lười nhác ở Bar, thành phố Biển phía Nam. Đi thăm thành cổ, lang thang dọc biển, chuyển từ café này sang café khác J